Di truyền là gì? Dưới tác dụng của gen di truyền, truyền các đặc trưng vốn có của bố mẹ cho con, gọi là di truyền. Qua đó có thể thấy. đối với phương pháp ưu sinh, di truyền là nhân tố quan trọng.
Cơ thể con người có khoảng 500 loại tế bào tạo nên. Trong những tế bào này đều có một tế bào nhân, nhiễm sắc thể ở trong nhân tế bào. Khi tế bào tách ra, dưới kính hiển vi có thể nhìn thấy có kết cấu hình chỉ và hình que. Trên nhiễm sắc thể lại có rất nhiều thừa số di truyền, gọi là gen.
Nhiễm sắc thể và gien di truyền là một loại hợp chất hóa học gọi là nucleic acid (DNA), sự sắp xếp sai lệch oxy và hydro trong loại vật chất này sẽ phát sinh thay đổi tính chất vốn có của gien di truyền.
Bởi vì DNA là thừa số di truyền tạo thành bởi cơ sở khoa học, là đơn vị cơ bản của di truyền, có thể con người sản sinh ra nhân tố bên trong mang đặc trưng sinh lý, đặc trưng sinh vật và miễn dịch. Nó có thể phục chế thông tin di truyền của bản thân mang theo, gien của con người là từ đời trước truyền lại, 2 bên bố mẹ đều đem theo thừa số di truyền, tức là gien, truyền lại cho con cái, để giữ được tính di truyền giữa bố mẹ và con cái.
Nếu hai bên vợ chồng phát hiện một bên nào xuất hiện về vấn đề gien di truyền thì nên chấm dứt việc mang thai đến hết đời.
Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015
Phụ nữ có cơ quan sinh dục di dạng với việc mang thai
Một số phụ nữ có cơ quan sinh dục phát triển di dạng, như hai tử cung, tử cung 2 sừng, tử cung đơn sừng, hai âm đạo, âm đạo có vách ngăn v.v...
Những người này thường khó có thai, nhưng nếu có thai, trong thời gian đầu trứng thụ tinh làm tổ không tốt, gây xảy thai tự nhiên, sảy thai liên tiếp, cũng có khi cơ tử cung phát triển không tốt, cùng với sự tăng lên của tuổi thai nhi mà cơ tử cung kém đi, hình thành áp lực đối với thai, bởi vì dung tích trong tử cung nhỏ hơn so với tử cung bình thường, thường dễ gây ra ngôi thai không thuận, lúc ngang, lúc ngược, khi sinh con gây ra tình trang khó đẻ hoặc ra máu nhiều sau khi sinh.
Do đó, phụ nữ có cơ quan sinh dục di dạng như âm đạo có vách ngăn nên tiến hành phẫu thuật trước khi mang thai.
Phụ nữ có cơ quan sinh dục khác thường, thấy tắt kinh, phải kịp thời đến bệnh viện kiểm tra, xác định là có thai hay không, nếu xác định là đã có thai thì phải đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ, khám thai định kỳ, khi phát sinh triệu chứng bất thường nên kịp thời xử lý.
Nhưng cũng không phải lo lắng, có nhiều người có cơ quan sinh dục dị dạng nhưng vẫn mang thai an toàn, trước khi sinh căn cứ tình trạng thai nhi to hay nhỏ, ngôi thai, tử cung và sức khỏe của người mẹ để chọn phương pháp sinh con thích hợp.
Những người này thường khó có thai, nhưng nếu có thai, trong thời gian đầu trứng thụ tinh làm tổ không tốt, gây xảy thai tự nhiên, sảy thai liên tiếp, cũng có khi cơ tử cung phát triển không tốt, cùng với sự tăng lên của tuổi thai nhi mà cơ tử cung kém đi, hình thành áp lực đối với thai, bởi vì dung tích trong tử cung nhỏ hơn so với tử cung bình thường, thường dễ gây ra ngôi thai không thuận, lúc ngang, lúc ngược, khi sinh con gây ra tình trang khó đẻ hoặc ra máu nhiều sau khi sinh.
Do đó, phụ nữ có cơ quan sinh dục di dạng như âm đạo có vách ngăn nên tiến hành phẫu thuật trước khi mang thai.
Phụ nữ có cơ quan sinh dục khác thường, thấy tắt kinh, phải kịp thời đến bệnh viện kiểm tra, xác định là có thai hay không, nếu xác định là đã có thai thì phải đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ, khám thai định kỳ, khi phát sinh triệu chứng bất thường nên kịp thời xử lý.
Nhưng cũng không phải lo lắng, có nhiều người có cơ quan sinh dục dị dạng nhưng vẫn mang thai an toàn, trước khi sinh căn cứ tình trạng thai nhi to hay nhỏ, ngôi thai, tử cung và sức khỏe của người mẹ để chọn phương pháp sinh con thích hợp.
Các bệnh ảnh hưởng đến việc mang thai
Thiếu máu: Một số phụ nữ có các triệu chứng như bình thường có lúc chóng mặt hoặc khi đứng lên cảm thấy đau đầu, thở khó, hoa mắt, v.v...trước khi mang thai nhất định phải làm xét nghiệm máu. Nếu xác định bị bệnh thiếu máu, nên chữa khỏi bệnh mới được có thai. Bởi vì khi mang thai có thể gây bệnh thiếu máu sinh lý, sẽ làm cho bệnh nặng thêm, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi và không có lợi cho việc hồi phục sức khỏe của người mẹ sau khi sinh.
Viêm bàng quang, viêm thận, viêm bể thận: Đường niệu đạo của phụ nữ ngắn, hơn nữa cửa niệu đạo gần với âm đạo và hậu môn, cho nên vi khuẩn rất dễ xâm nhập vào bàng quang dẫn đến viêm bàng quang. Cá biệt cũng có vi khuẩn xâm nhập vào bể thận, gây viêm bể thận. Khi mang thai, vì âm đạo tiết ra chất dịch nhiều nên càng dễ phát sinh bệnh này, do đó phụ nữ bị viêm bàng quang nhất định phải chữa khỏi mới được có thai.
Nhiều vi rut: Có rất nhiều bệnh do nhiễm vi rut gây ra. Vi rut phân bố rất rộng, có rất nhiều loại. Trên thực nghiệm và trên lâm sàn người ta thấy nhiễm virut có thể gây ra rối loạn nhiễm sắc thể, giống như chất hóa học và tia phóng xạ gây ra. Trước và sau thu tinh bi nhiễm virut có thể ảnh hướng đến tinh trùng, trứng hoặc kết cấu nhiễm sắc thể của trứng, gây nguy hại nghiêm trọng cho thai nhi, khiến thai nhi chết hoặc di dạng. Có một số virut như sởi, virut đậu mùa, bại liệt... có thể xuyên qua nhau thai vào cơ thể thai nhi khiến cho thai nhi phát triển bất thường.
Viêm bàng quang, viêm thận, viêm bể thận: Đường niệu đạo của phụ nữ ngắn, hơn nữa cửa niệu đạo gần với âm đạo và hậu môn, cho nên vi khuẩn rất dễ xâm nhập vào bàng quang dẫn đến viêm bàng quang. Cá biệt cũng có vi khuẩn xâm nhập vào bể thận, gây viêm bể thận. Khi mang thai, vì âm đạo tiết ra chất dịch nhiều nên càng dễ phát sinh bệnh này, do đó phụ nữ bị viêm bàng quang nhất định phải chữa khỏi mới được có thai.
Nhiều vi rut: Có rất nhiều bệnh do nhiễm vi rut gây ra. Vi rut phân bố rất rộng, có rất nhiều loại. Trên thực nghiệm và trên lâm sàn người ta thấy nhiễm virut có thể gây ra rối loạn nhiễm sắc thể, giống như chất hóa học và tia phóng xạ gây ra. Trước và sau thu tinh bi nhiễm virut có thể ảnh hướng đến tinh trùng, trứng hoặc kết cấu nhiễm sắc thể của trứng, gây nguy hại nghiêm trọng cho thai nhi, khiến thai nhi chết hoặc di dạng. Có một số virut như sởi, virut đậu mùa, bại liệt... có thể xuyên qua nhau thai vào cơ thể thai nhi khiến cho thai nhi phát triển bất thường.
Phụ nữ bị bệnh tâm thần không nên mang thai
Nếu cả hai vợ chồng đều mắc bệnh tâm thần thì tỷ lệ con cái mắc bệnh tâm thần là 40%. Nếu vợ hoặc chồng mắc bệnh tâm thần thì tỷ lệ con cái mắc bệnh là 20%, tỷ lệ mắc bệnh này cao gấp nhiều lần so với người bình thường.
Đứng về góc độ sinh sản, người mắc bệnh tâm thần không nên kết hôn, sinh con. Sự kết hôn giữa người bệnh tâm thần với nhau càng khiến cho mọi người lo lắng, nếu họ có con thì rất có thả năng con cái cũng mắc bệnh tâm thần. Nếu con cái không mắc bệnh nhưng vì bản thân người bố hoặc mẹ mắc bệnh tâm thần thì sẽ không có khả năng sinh hoặc độc lập, càng không thể nuôi dạy con cái.
Người mắc bệnh tâm thần chữa trị trong thời gian dài, nếu đã chữa khỏi thì có thể nghĩ đến việc kết hôn, nhưng tốt nhất không nên sinh con ngay, đợi khoảng 2 3 năm cho bệnh hoàn toàn khỏi hẳn mới được mang thai và lúc ấy không được dùng thuốc chữa bệnh nữa. Trong thời gian dùng thuốc mà có thai dễ làm cho thai nhi dị dạng hơn nữa khả năng di truyền bệnh cho con cái rất cao.
Đứng về góc độ sinh sản, người mắc bệnh tâm thần không nên kết hôn, sinh con. Sự kết hôn giữa người bệnh tâm thần với nhau càng khiến cho mọi người lo lắng, nếu họ có con thì rất có thả năng con cái cũng mắc bệnh tâm thần. Nếu con cái không mắc bệnh nhưng vì bản thân người bố hoặc mẹ mắc bệnh tâm thần thì sẽ không có khả năng sinh hoặc độc lập, càng không thể nuôi dạy con cái.
Người mắc bệnh tâm thần chữa trị trong thời gian dài, nếu đã chữa khỏi thì có thể nghĩ đến việc kết hôn, nhưng tốt nhất không nên sinh con ngay, đợi khoảng 2 3 năm cho bệnh hoàn toàn khỏi hẳn mới được mang thai và lúc ấy không được dùng thuốc chữa bệnh nữa. Trong thời gian dùng thuốc mà có thai dễ làm cho thai nhi dị dạng hơn nữa khả năng di truyền bệnh cho con cái rất cao.
Phụ nữ mắc bệnh động kinh không nên mang thai
Bệnh động kinh khi lên cơn nặng sẽ co giật hoặc mất ý thức. Khi lên cơn nhẹ, tay chân co giật hoặc tê liệt, hai mắt ngây dại, sau khi tỉnh tự bản thân không nhớ chút gì về những biến cố đã xảy ra.
Nguyên nhân bị bệnh động kinh do di chứng của bệnh viêm đại não hoặc thay đổi bệnh lý mạch máu trong não gọi là bệnh động kinh thứ phát.
Ngoài ra có một số người phát bệnh không rõ nguyên nhân, gọi là bệnh động kinh tính nguyên phát. Đối với phụ nữ có tiền sử bị bệnh động kinh, mang thai là một mối nguy hiểm. Thai phụ khi lên cơn động kinh, bởi vì toàn thân co giật, khiến cho thai nhi thiếu khí oxy dẫn đến sảy thai tự nhiên hoặc đẻ non. Hơn nữa không chỉ ảnh hướng đến hệ thống thần kinh của thai nhi mà còn gây cho thai nhi dị dạng. Ngoài ra phải dùng thuốc chữa bệnh nên cũng gây nguy hiểm cho thai nhi. Nếu thai phụ có tiền sản bệnh động kinh, do mang thai mà ngừng uống thuốc hoặc giảm lượng thuốc chữa bệnh động kinh thì rất dễ lên các cơn động kinh, gây nguy hại nghiêm trọng cho thai nhi.
Thường thì bệnh động kinh thứ phát không di truyền, sau khi chữa khỏi bệnh có thể mang thai, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe thai nhi. Nhưng thai phụ bị bệnh động kinh nguyên phát có tính di truyền rõ rệt, tỷ lệ thai nhi mắc bệnh là 4%. Do đó người bị bệnh động kinh nguyên phát, tuy chữa khỏi lâm sàn, nhưng vẫn không nên có thai để tránh di truyện cho con.
Nguyên nhân bị bệnh động kinh do di chứng của bệnh viêm đại não hoặc thay đổi bệnh lý mạch máu trong não gọi là bệnh động kinh thứ phát.
Ngoài ra có một số người phát bệnh không rõ nguyên nhân, gọi là bệnh động kinh tính nguyên phát. Đối với phụ nữ có tiền sử bị bệnh động kinh, mang thai là một mối nguy hiểm. Thai phụ khi lên cơn động kinh, bởi vì toàn thân co giật, khiến cho thai nhi thiếu khí oxy dẫn đến sảy thai tự nhiên hoặc đẻ non. Hơn nữa không chỉ ảnh hướng đến hệ thống thần kinh của thai nhi mà còn gây cho thai nhi dị dạng. Ngoài ra phải dùng thuốc chữa bệnh nên cũng gây nguy hiểm cho thai nhi. Nếu thai phụ có tiền sản bệnh động kinh, do mang thai mà ngừng uống thuốc hoặc giảm lượng thuốc chữa bệnh động kinh thì rất dễ lên các cơn động kinh, gây nguy hại nghiêm trọng cho thai nhi.
Thường thì bệnh động kinh thứ phát không di truyền, sau khi chữa khỏi bệnh có thể mang thai, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe thai nhi. Nhưng thai phụ bị bệnh động kinh nguyên phát có tính di truyền rõ rệt, tỷ lệ thai nhi mắc bệnh là 4%. Do đó người bị bệnh động kinh nguyên phát, tuy chữa khỏi lâm sàn, nhưng vẫn không nên có thai để tránh di truyện cho con.
Phụ nữ mắc bệnh đường sinh dục không nên mang thai
Con đường lây nhiễm bệnh sinh dục là qua đường sinh dục. Loại bệnh này đều có nguy hại đến mẹ và con. đặc biệt là thai nhi, do đó nhất định phải chữa khỏi mới được mang thai.
Bệnh giang mai là bệnh truyền nhiễm mãn tính do xoắn khuẩn gây ra, xoắn khuẩn đó có thể qua nhau thai lây truyền cho thai nhi, làm cho thai nhi cũng bị bệnh giang mai, dẫn đến sảy thai tự nhiên, đẻ non, thai chết lưu. Chỉ có khoảng 40% thai nhi bị bệnh giang mai bẩm sinh có khả năng sống.
Bệnh lậu là do khuẩn lậu cầu gây ra, phụ nữ sau khi mắc bệnh khuẩn lậu cầu xâm nhập vào âm đạo, cổ tử cung, niêm mạc tử cung, ống dẫn trứng gây ra một loạt triệu chứng viêm nhiễm. Phụ nữ bị viêm âm đạo do lậu, khi sinh con sẽ truyền nhiễm bệnh cho thai nhi dẫn đến thai nhi bị bệnh viêm kết mạc mắt do lậu, nếu không kịp thời chữa trị có thể dẫn đến mù mắt.
Bệnh mào gà là do lây nhiễm vi rut gây ra. Đa số phát sinh ở xung quanh âm hộ và hậu môn, khi nghiêm trọng có thể phát sinh trong âm đạo, cổ tử cung, đường tiết niệu v.v... Nếu thai phụ bị bệnh sùi mào gà trong âm đạo, thì khi sinh con rất dễ lây nhiễm sang con, khiến cho thai nhi mới sinh ra không lâu cũng xuất hiện triệu chứng bệnh sùi mào gà ở vùng âm hộ và xung quanh hậu môn.
Nếu trước khi mang thai mắc các bệnh như giang mai, lậu hoặc sùi mào gà phải chữa trị triệt để mới được mang thai.
Bệnh giang mai là bệnh truyền nhiễm mãn tính do xoắn khuẩn gây ra, xoắn khuẩn đó có thể qua nhau thai lây truyền cho thai nhi, làm cho thai nhi cũng bị bệnh giang mai, dẫn đến sảy thai tự nhiên, đẻ non, thai chết lưu. Chỉ có khoảng 40% thai nhi bị bệnh giang mai bẩm sinh có khả năng sống.
Bệnh lậu là do khuẩn lậu cầu gây ra, phụ nữ sau khi mắc bệnh khuẩn lậu cầu xâm nhập vào âm đạo, cổ tử cung, niêm mạc tử cung, ống dẫn trứng gây ra một loạt triệu chứng viêm nhiễm. Phụ nữ bị viêm âm đạo do lậu, khi sinh con sẽ truyền nhiễm bệnh cho thai nhi dẫn đến thai nhi bị bệnh viêm kết mạc mắt do lậu, nếu không kịp thời chữa trị có thể dẫn đến mù mắt.
Bệnh mào gà là do lây nhiễm vi rut gây ra. Đa số phát sinh ở xung quanh âm hộ và hậu môn, khi nghiêm trọng có thể phát sinh trong âm đạo, cổ tử cung, đường tiết niệu v.v... Nếu thai phụ bị bệnh sùi mào gà trong âm đạo, thì khi sinh con rất dễ lây nhiễm sang con, khiến cho thai nhi mới sinh ra không lâu cũng xuất hiện triệu chứng bệnh sùi mào gà ở vùng âm hộ và xung quanh hậu môn.
Nếu trước khi mang thai mắc các bệnh như giang mai, lậu hoặc sùi mào gà phải chữa trị triệt để mới được mang thai.
Quy trình nâng mũi s line tại thẩm mỹ viện Hàn Quốc Asia
Nâng mũi s line - "Để tạo được một chiếc mũi cao, xinh xắn, bệnh nhân phải trải qua 7 bước cơ bản trong quá trình phẫu thuật, kéo dài khoảng 30 - 40 phút."
- Đo vẽ chính xác vị trí đặt chất liệu mũi.
- Gọt chất liệu mũi theo dáng mũi và khuôn mặt của tưng người.
- Gây tê tại chỗ vùng đầu mũi.
- Bóc tách khoang để đưa chất liệu vào.
- Khâu kín vết mổ bằng chỉ khâu thẩm mỹ.
Nếu khách hàng có cánh mũi hơi to làm giảm đi tính thẩm mỹ thì có thể vừa nâng mũi vừa kết hợp thu gọn cánh mũi, thu nhỏ đầu mũi.
Thời gian tiến hành phẫu thuật nâng mũi Hàn Quốc thường khoảng 20-30 phút. Khách hàng sau phẫu thuật có thể nghỉ ngơi, chườm đá tại trung tâm khoảng 30 phút.
Sau khi phẫu thuật xong đa số khách hàng đều cảm thấy bình thường.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






