Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức Khỏe Mang Thai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức Khỏe Mang Thai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Tầm quan trọng của việc giáo dục thai nhi ngay tháng đầu tiên của thai kỳ

George Ohsawa - một nhà tiên phong của khoa học thực dưỡng, đã viết: "Thể chất cơ bản của một người được hình thành trong vòng 6 năm đầu tiên. Đây là thời gian cốt yếu của con người, nhưng thời kỳ bào thai trong bụng mẹ còn quan trọng hơn gấp ngàn lần. Trong quãng thời gian 290 ngày trong bụng mẹ, từ một tế bào sơ khởi đầu tiên đã nhân lên gấp 3 triệu lần ( trong khi trọng lượng của chúng ta chỉ tăng 12 lần từ khi sinh ra cho đến tuổi 20). Có thể thấy rõ sức khỏe và hạnh phúc của đứa trẻ tùy thuộc vào giai đoạn quan trọng có tính sống còn này".

Tìm hiểu thêm về sự phát triển của não thai nhi, chúng ta thấy: sau 25 ngày thụ thai, ngoài việc tế bào phôi thai hình thành ống thần kinh, não bắt đầu phát triển. Tháng thứ 2, kết cấu bên ngoài và bên trong não có thay đổi. Tháng thứ 4, lớp vỏ não bắt đầu manh nha. Tháng thứ 5, lớp vỏ đại não trưởng thành. Tháng thứ 6, vỏ não phân tầng và phân định thành những khu vực khác nhau; tới thời điểm này, vỏ não vẫn trơn nhẵn. Tháng thứ 7, lớp vỏ đại não xuất hiện nếp nhăn, các nếp nhăn này thể hiện khả năng trí tuệ của con người. Tháng thứ 8, thể tích não tăng lên rõ rệt, kết cấu của não dần trở nên phức tạp. Đến tháng thứ 9, đại não hầu như đã có rãnh não.

Từ sự phát triển của não, chúng ta có thể nhận thấy rằng nên thực hiện việc giáo dục thai nhi ngay từ tháng đầu tiên của thai kỳ. Khi não bắt đầu hình thành, phải cung cấp đầy dủ dinh dưỡng và tạo ra những thông tin thích đáng. Từ tháng thứ 4, cũng là khi lớp vỏ não hình thành, giáo dục thai nhi nên đi vào giai đoạn huấn luyện chính quy. Hướng dẫn thích hợp và khai thác tích cực có thể làm cho não phát triển tốt hơn. Não càng phát triển, rãnh trên lớp vỏ não cũng nhiều thêm, trẻ sẽ trở nên thông minh hơn.

Ngược lại, nếu thời kỳ não phát triển mà không cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, sau khi ra đời, trẻ có thể bị tình trạng trí lực kém. Một nhóm nghiên cứu ở Mỹ đã làm thực nghiệm trên những chú chuột cái mang thai. Họ cho chuột mẹ ăn uống thiếu thốn. Kết quả là phôi thai của chuột trong cơ thể chuột phát triển bình thường, nhưng đến thời kỳ bú sữa thì chuột con phát triển rất chậm. Khi giải phẫu thì phát triện số lượng tế bào não của những chú chuột con này thiếu 87% so với chuột bình thường. Từ đó cho thấy, dinh dưỡng không đầy đủ sẽ làm cho tế bào não của chuột con ít hơn bình thường. Đồng thời, não trong thời kỳ phát triển nhất định phải được kích thích đầy đủ, nếu thiếu những kích thích cần thiết thì não sẽ kém phát triển. Con người cũng tương tự, khoa học cho thấy trong thời kỳ mang thai, nếu thai phụ không bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, thiếu khơi gợi thông tin, thì trẻ sau khi ra đời sẽ phát triển chậm, trí lực thấp kém.

Các bác sĩ ở nhiều nước khác nhau cũng đã có những nhận định về khả năng của thai nhi như sau:

"Nếu bố mẹ thường xuyên tiếp xúc, trò chuyện với con (trong thai) bằng lòng yêu thương trìu mến, sẵn sàng đón nhận đứa con ra đời thì đứa trẻ ấy sẽ linh hoạt hơn, mau biết nói và phát triển ngôn ngữ tốt hơn. Hơi ấm và giọng nói của bố mẹ được bé ghi vào bộ nhớ, đến khi bé chào đời, những ấn tượng thân quen này sẽ tạo nơi bé cảm giác an toàn, gắn bó."

Như vậy trong thời kỳ mang thai, mẹ và con có sự hợp nhất với nhau về thể chất, sinh lý và tinh thần. Tâm trạng của người mẹ mang thai tự đồng hóa với đứa con trong bụng, khi mẹ xoa bụng, nói chuyện với con và cho con nghe nhạc, trẻ đã có những phản ứng thể hiện sự đồng tình hay phản đối cho mẹ biết thông qua sự dịch chuyển của thai.

Sự phát triển của thai nhi

"Nếu mỗi thai nhi trên thế giới này đều được hấp thụ dinh dưỡng tốt trong quá trình sinh trưởng và phát triển, thì bình quân mỗi phút cơ thể nó có thể tăng thêm 250.000 tế bào"
Richard Leisitalke

Trước đây, nhiều người có quan niệm sai lầm rằng trẻ em chưa biết gì, thai nhi lại càng không biết gì. Những người nói chuyện với con trong bụng thậm chí còn bị mọi người xung quanh cho là "thần kinh có vấn đề". Nhưng cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự phát triển của các loại máy móc, thiết bị kiểm tra đặc biệt như máy siêu âm, máy đo nhịp tim cho thai nhi, lồng kính.... chúng ta có thể biết được thai nhi đã phát triển như một con người thực sự trong bụng mẹ. Các phản ứng biến đổi về nhịp tim, nhịp thở và quẩy đạp khi thai tiếp nhận những tác động kích thích, thậm chí cả những động tác của thai nhi như uống nước ối, đi tiểu và ngậm ngón tay, đều được các thiết bị hiện đại ngày nay quan sát và ghi nhận.

Các chuyên gia y học từ thập niêm 70 của thế kỷ XX đã dùng máy siêu âm để quan sát và phát hiện ra rằng, khi tuần tuổi của thai nhi càng tăng thì sự phân hóa hệ thần kinh não bộ cũng ngày càng phát triển và ngày càng có những khả năng mà khiến người ta ngạc nhiên. Cụ thể thai nhi phát triển theo từng tháng như sau:

Thai một tháng tuổi: Hệ thống thần kinh của thai nhi bắt đầu hình thành.


Thai hai tháng tuổi: Thai nhi bắt đầu xuất hiện lớp vỏ não, có xúc giác, biết cảm giác đau và có những vận động giống như bơi lội.

Thai ba tháng tuổi: Thai nhi đã là một con người hoàn chỉnh, có đầy đủ các bộ phận. Miệng thai nhi có thể chạm tới tay và cuống rốn, đã biết động tác mút tay từ tuần thứ 12. Vì khả năng bú đã được luyện tập từ trong bào thai nên khi vừa sinh ra, bé đã có khả năng bú mẹ ( người mẹ cho bé bú càng sớm càng tốt ). Nhờ khả năng bú mút mà não bộ và các giác quan của bé được kích thích phát triển. Bú mút kích thích sự phát triển của cảm giác da. Cảm giác này liên quan mật thiết đến sự phát triển của não.

Thai bốn tháng tuổi: Thai nhi có thể nghe được những âm thanh bên ngoài tử cung. Giai đoạn này hệ thống vỏ não của thai nhi đã hình thành, hệ thống này chi phối quyết định sự phát triển của 5 giác quan. Sau khi sinh, để phát triển trí tuệ thì 5 giác quan cần khỏe mạnh, do đó cách sinh hoạt trong cuộc sống đời thường của phụ nữ trong thời kỳ mang thai có vai trò rất quan trọng. Thời điểm này thai nhi cảm nhận được sự thoải mái hay buồn từ người mẹ. Mẹ vui giúp bé thấy thoải mái, cử động nhẹ nhàng, ôn hòa; khi mẹ buồn bực, bé cũng phản ứng lại, có bé đá vào bụng mẹ, có bé hoa chân múa tay loạn xạ. Có người mẹ khi đang mang thai thì người thân qua đời, chị rất đau khổ và cũng cảm thấy rõ cử động của thai nhi không bình thường, nó cũng có vẻ rất mệt mỏi.

Thời gian từ 4 tháng đến 7 tháng tuổi là khoảng thời gian quan trọng nhất cho sự phát triển trí nhớ của thai nhi. Khi người mẹ ở trạng thái tâm lý bất an, không vui hay lo sợ thì quá trình tiết hormone ở thai nhi bị ức chế, ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ của trẻ.

Thai năm tháng tuổi: Thai nhi đã có khả năng ghi nhớ. Bé sẽ có cảm giác an toàn nếu được nghe giọng nói của mẹ nhiều lần. Bé mút tay thành thục hơn, tiểu tiện được trong nước ối và thải ra qua ruột non. Thai nhi vận động mạnh, khiến người mẹ cảm thấy thai máy rõ ràng.

Thai sáu tháng tuổi: Thai nhi có khả năng ngửi được mùi của mẹ và ghi vào trí nhớ. Thai nhi vận động mạnh hơn.

Thai bảy tháng tuổi: Sự phát triển của não và các tế bào thần kinh gần giống người trưởng thành. Thị giác bắt đầu phát triển. Thai nhi đã có khả năng phát âm. Đặc biệt, giai đoạn này thai nhi đã phân biệt được những vị đắng, cay, chua, mặn, ngọt. Những gai vị giác giúp bé cảm nhận các vị này được hình thành từ tháng thứ 3 và được hoàn thiện dần cho đến khi ra đời, nhưng khi thai nhi được 7 tháng tuổi thì chúng gần như đã được hoàn chỉnh. Do đó trẻ sơ sinh có thể phân biệt được sự khác biệt giữa mùi vị của sữa mẹ và các thứ khác. Trẻ thích vị ngọt. Nếu em bé sinh non trong giai đoạn này vẫn có thể phát triển bình thường được. Các bác sĩ sẽ nuôi bé trong lồng kính tại bệnh viện cho đến khi bé có thể về với mẹ.

Thai tám tháng tuổi: Thai nhi có thể nghe và phân biệt được các âm thanh khác nhau, biết phân biệt giọng nói của mẹ và của bố, đồng thời có những phản ứng lại. Ví dụ, dưới sự kích thích của tiếng cãi nhau, nhịp tim của thai nhi có thể tăng nhanh, tỷ lệ động thai tăng, thậm chí thai nhi có thể đá chân vào bụng mẹ. Còn dưới tác động của những âm thanh nhẹ nhàng, được truyền đến một cách êm dụi thì nhịp tim của thai sẽ dần dần trở lại trạng thái ban đầu, tỷ lệ đạp cũng giảm dần, thai nhi dễ dàng đi vào giấc ngủ một cách khoan thai. Bé cảm nhận được vị đắng, vị ngọt.

Sau chín tháng: trẻ có thể sinh ra khỏe mạnh. Thai nhi đã có đầy đủ các bộ phận của cơ thể với chức năng phức tạp và hoàn thiện: có thính giác, xúc giác, vị giác, thị giác, khứu giác tương đối mẫn cảm. Bé có thể thoát ly cuộc sống ở nơi bụng mẹ và ra đời với một sức sống mạnh mẽ.

Những thời điểm khám thai quan trọng nhất

Lần khám thai đầu tiên: khi trễ kinh 1 tuần, hoặc khi thử que cho kết quả 2 vạch, bạn hãy đến bệnh viện ngay. Có nhiều người biết có thai nhưng cố đợi đến hai ba tháng mới đi khám. Đều đó hoàn toàn không nên. Rất cần phải khám thai sớm để loại trừ những trường hợp thai nằm ngoài tử cung, rất nguy hiểm nếu không phát hiện kịp thời. Bạn sẽ được siêu âm để xác định thai có nằm trong tử cung hay chưa, đã có tim thai chưa? Nếu chưa thấy tim thai mới 5 - 6 tuần tuổi, bạn cũng đừng lo lắng. Đó là vì thai còn quá nhỏ. Bạn sẽ được hẹn lại lần sau, khi thai được 7 - 8 tuần tuổi để xác định tim thai.

Đo độ mờ da gáy: ở thời điểm 11 - 13 tuần, siêu âm giúp tính tuổi thai cực kỳ chính xác, Ngoài ra, đây cũng là thời điểm duy nhất có thể đo độ mờ da gáy nhằm dự đoán một số bất thường nhiễm sắc thể nguy hiểm ( gây bệnh down, di dạng tim, chi, thoát vị cơ hoành...) Qua 14 tuần, chỉ số này sẽ không còn chính xác nữa.


Xét nghiệm sàng lọc Triple test: Giúp dự đoán nguy cơ bị down và di dạng nhiễm sắc thể của thai. Xét nghiệm này chỉ có giá trị khi được thực hiện vào tuần thai 14 - 17.


Siêu âm 4D: ở thời điểm 21 - 24 tuần, siêu âm có thể giúp phát hiện hầu hết các bất thường về hình thái của thai nhi như sứt môi, hở hàm ếch, dị dạng ở các cơ quan, nội tạng. Lần siêu âm này rất quan trọng vì nếu cần đình chỉ thai kỳ thì phải làm trước tuần 28. Ngoài ra, nếu để muộn hơn mới siêu âm thì lúc đó thai nhi đã quá lớn sẽ khó phát hiện được các dị tật nếu có.


Chích ngừa uốn ván: ở lần khám thai lúc 30 - 32 tuần, bạn sẽ được làm xét nghiệm công thức máu, thử nước tiểu và chích ngừa uốn ván. Ngoài ra, siêu âm sẽ giúp phát hiện một số vấn đề hình thái xảy ra muộn như bất thường ở động mạch, tim và não, kiểm tra tình trạng phát triển của thai nhi.

Non - stress test: khoảng 35 - 36 tuần, bạn sẽ được siêu âm màu Doppler để theo dõi động mạch rốn, động mạch não, động mạch tử cung, kiểm tra nước ối, dây rốn... Bác sĩ cũng sẽ dự báo cân nặng bé lúc sinh. Một số nơi sẽ cho bạn làm Non - stress test nhằm kiểm tra sức khỏe của bé và tìm hiểu xem bé có nhận đủ oxy hay không bằng một máy đo tim thai và chuyển động của thai trong vòng 30 phút.



Từ giai đoạn này trở đi, bạn cần đến bệnh viện kiểm tra mỗi tuần hoặc bất cứ khi nào đau bụng, ra máu để theo dõi tim thai, cử động thai và xem tình trạng cổ tử cung đã mở hay chưa. Việc của bạn lúc này là giữ cho tinh thần thoải mái vui vẻ và nghĩ ngơi thật tốt, vì chẳng còn bao lâu nữa bạn sẽ đón bé chào đời...

Tầm quan trọng của sàng lọc sơ sinh

Sau khi trẻ ra đời, cần thực hiện sàng lọc sơ sinh bằng cách:


Tầm quan trọng của sàng lọc sơ sinh
Lấy máu gót chân em bé để kiểm tra xem trẻ có bị thiếu máu tán huyết hay không.

Kiểm tra xem trẻ có bị bệnh nhược giáp bẩm sinh hay không. Nếu được phát hiện và điều trị sớm, chi phí điều trị sẽ rất thấp và trẻ sau này phát triển bình thường. Nếu sau 3 tháng mới phát hiện thì trẻ bị đần độn suốt đời.

Kết luận:

Một thai kỳ bao giờ cũng có nguy cơ thấp hay cao, nên cần có sự hợp tác, hỗ trợ tốt giữa thầy thuốc và thai phụ để cho thai kỳ được kết thúc tốt đẹp, bảo vệ tốt sức khỏe của mẹ và bé cũng như cho ra đời những em bé thông minh khỏe mạnh.

Tầm quan trọng và nội dung của khám thai 3 tháng cuối

Tầm quan trọng và nội dung của khám thai 3 tháng cuối:

Tầm quan trọng:

3 tháng cuối là lúc các bà mẹ sắp sinh, mà  các tai biến sản khoa thường xảy ra khi sinh, trong chuyển dạ. Do đó, khám thai và ba tháng cuối là để:

  • Bac sĩ chẩn đoán ngôi thai, sự tương xứng giữa cân nặng thai nhi và khung chậu người mẹ... từ đó có thể tiên lượng được cuộc sinh sắp tới là dễ hay khó, có những nguy cơ nào...
  • Bác sĩ có thể phát hiện được những thai kỳ nguy cơ cao và từ đó cho nhập viện sớm trước ngày dự sinh.
  • Bác sĩ cho nhập viện, mổ chủ động khi thai đủ tuổi trưởng thành ( 38 tuần ) đối với những trường hợp phải sinh mổ như: nhau tiền đạo, ngôi mông con to, khung chậu hẹp, vết mổ lấy thai cũ...
  • Bác sĩ sẽ quyết định cơ sở y tế nào mà các bà mẹ có thể sinh tại tuyến xã, quận huyện hay tuyến tỉnh, tuyến thành phố, trung ương.

Nội dung khám:

  • Cân trọng lượng, đo huyết áp.
  • Đo bề cao tử cung, nghe tim thai.
  • Tiêm ngừa hỗ trợ phổi cho bé ( tuần 28 ) và siêu âm Doppler để kiểm tra động mạch não của bé ( tuần 31 - 33). Siêu âm xem tình trạng thai, nhau và nước ối.
  • Thử máu, thử nước tiểu.

Tầm quan trọng và nội dung của khám thai 3 tháng giữa

Tầm quan trọng và nội dung của khám thai 3 tháng giữa:
Tầm quan trọng và nội dung của khám thai 3 tháng giữa

Tầm quan trọng:

Khám thai 3 tháng giữa cũng rất quan trọng vì:
  • Những dị tật, dị dạng thai nhi được chẩn đoán tương đối rõ ràng từ tuần lễ thứ 15 - 19 thai kỳ. Thai càng lớn, các dị tật, dị dạng sẽ khó quan sát hơn. Nhờ khám thai trong giai đoạn này, các bà mẹ sẽ được tư vấn để nếu cần thì phải chấm dứt sớm thai kỳ, tránh ảnh hưởng đến tâm sinh lý về sau.
  • Bác sĩ sẽ phát hiện được rối loại huyết áp do thai vào tuần lễ thứ 20, từ đó dự phòng tiền sản giật nặng hay sản giật về sau.
  • Theo dõi sự phát triển của thai nhi, sự tăng cân của bà mẹ, phát hiện thai suy dinh dưỡng trong tử cung, từ đó có chế độ dinh dưỡng hoặc những chăm sóc đặc biệt cho bà mẹ. Đối với những thai kỳ nguy cơ cao; bác sĩ sẽ theo dõi diễn tiến bệnh, khả năng đáp ứng của bà mẹ với bệnh lý, từ đó có chế độ điều trị thích hợp.
  • 3 tháng giữa là thời điểm lý tưởng để thực hiện các phẫu thuật, thủ thuật sản phụ khoa thích hợp mà không ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi hoặc không làm cho sinh non như khâu vòng cổ tử cung ở những bà mẹ bị hở eo tử cung, phẫu thuật bóc hoặc cắt khối u buồng trứng ở những bà mẹ có khối ư buồng trứng.
Nội dung khám:
  • Cân trọng lượng, đo huyết áp.
  • Đo bề cao tử cung, nghe tim thai.
  • Siêu âm xem tình trạng thai, nhau và nước ối.
  • Thử máu, thử nước tiểu.

Tầm quan trọng và nội dung của khám thai 3 tháng đầu

Tầm quan trọng và nội dung của khám thai 3 tháng đầu:

Tầm quan trọng
  • Bác sĩ sẽ chẩn đoán có thai hay không? Mấy thai?
  • Bác sĩ sẽ chẩn đoán tuổi thai và tính ngày dự sinh: nhiều chị em không nhớ rõ ngày kinh chót, khống có kinh, kinh không đều... nhờ khám thai 3 tháng đầu, bác sĩ mới chấn đoán chính xác tuổi thai, dự đoán ngày sinh sát hơn là những tháng giữa và tháng cuối thai kỳ. Từ đó mới có thể biết được khi sinh là thai đủ tháng hay non tháng, dự phòng được thai già tháng và nhất là sau này có thể phát hiện được thai suy dinh dưỡng trong tử cung.
  • Bác sĩ sẽ phát hiện những bệnh lý của mẹ kèm thai như tim sản, tiểu đường, cao huyết áp... từ đó sẽ tư vấn cho các bà mẹ nên tiếp tục hay chấm dứt thai kỳ, cách điều trị, cách thức dưỡng thai và quyết định lịch khám thai tiếp theo.
  • Bác sĩ sẽ phát hiện những bệnh lý phụ khoa kèm thai như khối u buồng trứng, u xơ tử cung, ung thư cổ tử cung kèm theo... từ đó sẽ tư vấn cho các bà mẹ cách điều trị thích hợp.

Lịch khám thai định kỳ đối với một thai kỳ bình thường

Theo quy định của Bộ Y Tế, trong một thai kỳ, người mẹ phải được khám thai ít nhất 3 lần vào 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Tuy nhiên nếu khám đầy đủ thì phải là 7 lần đối với một thai kỳ bình thường, còn những thai kỳ có nguy cơ cao như tim sản, cao huyết áp... thì số lần khám thai sẽ nhiều hơn với nhịp độ khít hơn phụ thuộc vào các lý do y học.

Lịch khám thai định kỳ đối với một thai kỳ bình thường

Lịch khám thai định kỳ đối với một thai kỳ bình thường:
  • 3 tháng đầu: khám thai 1 lần.
  • 3 tháng giữa: khám thai 1 lần
  • Tháng 7,8: mỗi tháng 1 lần.
  • Tháng 9: hai tuần khám 1 lần.
  • 1 tuần trước khi sinh: khám 1 lần



Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Thai giáo là gì?

Thai giáo là gì? Dạy con từ 0 tuổi

Thai giáo, nghĩa là nuôi dạy con từ khi còn là bào thai. Công việc này được tiến hành đồng thời cả hai mặt: Thể chất và tinh thần.


Thai giáo là quá trình giáo dục với các biện pháp tổng hợp được bắt đầu từ khi chuẩn bị mang thai, điều chỉnh hoàn cảnh môi trường trong và ngoài cơ thể người mẹ, tiến hành dạy dỗ và giáo dục thai nhi một cách chủ động, tích cực, giúp thai nhi phát triển toàn diện và đầy đủ cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và nhân cách.

Có nhiều kiểu thai giáo: thai giáo bằng âm nhạc, thai giáo bằng ngôn ngữ, thai giáo bằng xoa bóp, thai giáo bằng chế độ ăn uống, thai giáo bằng cách tạo môi trường tốt... Nhưng tổng hợp lại, chúng tôi thống nhất có 2 phương pháp thai giáo: thai giáo trực tiếp và thai giáo gián tiếp.

Thai giáo trực tiếp là tiến hành các biện pháp giáo dục sớm cho thai nhi. Dạy thai nhi thông qua các bài tập tác động đến 5 giác quan của cả mẹ và bé

Thai giáo gián tiếp là việc chăm sóc bà mẹ mang thai về mặt dinh dưỡng, tinh thần, tránh những kích thích không tốt cho mẹ và bé

Thai giáo là biểu hiện tình cảm giữa các thế hệ, là bản năng tự nhiên gắng liền với khao khát làm cha mẹ, là sự ttheer hiện tình cảm với con. Ai cũng từng được thai giáo nhưng khác nhau về mức độ, cách thức. Người thầy vĩ đại nhất của chúng tôi chính là MẸ:"Phúc đức tại mẫu". Xã hội tiến bộ hay suy thoái chính nhờ vào các bà mẹ. Chín tháng mười ngày nền tảng của đứa con do các bà mẹ cưu mang là nền tảng của xã hội tốt hay xấu sau này

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

Mang thai và dị tật ống thần kinh

Thai nhi không có não và tật nứt đốt sống mở đều thuộc dị tật ống thần kinh. Nếu trực tiếp bộc lộ ra bên ngoài gọi là di tật ống thần kinh tính mở.

Loại bệnh này là bệnh di truyền nhiều gien, do kết quả nhiều đời gien có cùng tác dụng với nhau, nhân tố môi trường cũng là nguyên nhân gây ra bệnh này.

Thai nhi vô sọ và thai nhi di tật không có mô não, chủ yếu là do ống thần kinh của thai nhi phát triển kém gây ra, ngoài ảnh hưởng đến mô não, thần kinh sọ của thai nhi cũng có khuyết tật. Thai nhi như thể thường không có khả năng sống.

Tật nứt đốt sống mở thuộc dị tật ống thần kinh tính mở do môi trường độc hại gây ra chủ yếu là do nhiễm virut khi mang thai, hoặc tiếp xúc với tia phóng xạ, tiếp xúc dược liệu có hại hoặc có một số triệu chứng bất thường khi mang thai, ngoài ra, nếu trước và sau khi mang thai thiếu vitamin B12 thì tỷ lệ phát sinh bệnh này tăng cao.

Trong thời gian mang thai muốn chẩn đoán dị tật loại này nên áp dụng cách chọc nước ối để kiểm tra, đạt tỷ lệ chính xác đến khoảng 90 %. Siêu âm cũng chẩn đoán được thai không có mô não và tật nứt đốt sống mở.

Nếu thai phụ từng sinh con không có não hoặc tật nứt đốt sống hoặc vợ chồng có người bị tật nứt đốt sống nếu kiểm tra lâm sàng thấy nước ối quá nhiều hoặc đầu thai nhi không rõ thì phải chọc nước nối xét nghiệm và kiểm tra qua siêu âm.

Bệnh bẩm sinh và bệnh di truyền khác nhau như thế nào?

Một trong những đặc điểm của bênh di truyền là nó vốn có tính bẩm sinh, loại bệnh này sinh ra đã có. Nhưng không phải tất cả các bệnh sinh ra đã có đều là bệnh di truyền.


Bệnh bẩm sinh xuất hiện ngay khi vừa sinh ra, trong đó đa số biểu hiện là hình thái bên ngoài cơ thể và cơ quan nội tạng phát triển không bình thường.

Bệnh bẩm sinh không nhất định là bệnh di truyền, ví dụ: Người mẹ trong 3 tháng đầu mang thai bị nhiễm virut sởi dẫn đến thai nhi mắc bệnh tim bẩm sinh hoặc bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh, thì đó không phải là bệnh di truyền mà là do kết quả của ảnh hưởng nhân tố môi trường, loại bệnh này không truyền đến đời sau, cho nên không phải là bệnh di truyền.

Bệnh di truyền là do đời trước truyền cho đời sau, liên quan tới vai trò di truyền của gien di truyền từ đời trước. Có những bệnh di truyền không nhất thiết khi sinh ra đã có biểu hiện bệnh mà đến một tuổi nào đó mới phát bệnh. Như chứng căng cơ tính di truyền thường xuất hiện ở tuổi thanh xuân vào mùa đông. Lại như bệnh mất sự điều khiển vận động tiểu não có tính di truyền thường phải đến 35 - 40 tuổi mới phát bệnh.

Bệnh bẩm sinh và bệnh di truyền tuy không phải là một loại bệnh nhưng quan hệ giữa chúng lại rất mật thiết.

Đặc điểm của con cái so với bố mẹ

Một số đặc điểm của con cái như ngoại hình, giọng nói, dáng đi, ngũ quan, nhóm máu và những quá trình trao đổi chất trong cơ thể đều có điểm giống bố mẹ, sự giống nhau giữa thế hệ bố mẹ và thế hệ con gái là do gien di truyền.

Mang thai

Bất kỳ phôi thai nào hình thành đều do một tinh trùng và một trứng tạo nên. Hình thành tế bào sinh sản phải qua quá trình phân tách. Trong quá trình phân tách, liên tiếp thực hiện 2 lần phân tách tế bào, kết quả trên tinh trùng và trứng hình thành có 23 nhiễm sắc thể, qua sự kết hợp giữa trứng và tinh trùng, lại thành 46 nhiễm sắc thể. Trên mỗi nhiễm sắc thể có hơn 2000 gien, cơ thể con người có khoảng trên 50000 kết cấu gien biểu hiện các đặc tính khác nhau của cơ thể, 46 nhiễm sắc thể này lấy đi một nữa từ bố và một nửa từ mẹ, sẽ đem đặc điểm của bố mẹ truyền lại cho con cái. Gien khác nhau, có kết cấu nhiễm sắc thể khác nhau, cho nên con cái vừa không hoàn toàn giống bố, cũng vừa không hoàn toán giống mẹ. Hình thành một cơ thể mới vừa giống bố, vừa giống mẹ, lại vừa có đặc tính của bản thân.

Đó là lí do tại sao con gái và bố mẹ không hoàn toàn giống nhau, trong số con cái cùng bố mẹ sinh ra, giữa anh em, chị em và sinh đôi cũng không hoàn toàn giống nhau. Điều đó gọi là biến dị trong di truyền.

Cách phòng bệnh di truyền

1. Thực hiện biện pháp chăm sóc sinh đẻ:

Đối với người bị bệnh bẩm sinh có thể lây truyền cho thế hệ sau nên tránh việc sinh đẻ.

2. Tránh họ hàng kết hôn:

Con cái cùng họ hàng mà kết hôn với nhau sẽ phát sinh tỉ lệ một số bệnh di truyền nhiều hơn. Như người bệnh "thái hóa chức năng gan" tỷ lệ phát sinh bệnh thế hệ sau là 1/64, trong khi đó không phải họ hàng kết hôn là 1/40 triệu. Ngoài ra, trí tuệ kém của con cái họ hàng kết hôn cao gấp 3,8 lần so với không phải họ hàng kết hôn.


3. Tư vấn di truyền: Trước và sau khi mang thai có tình trạng dưới đây nên sớm được tư vấn:

- Tuổi cao, nữ trên 35 tuổi, nam trên 45 tuổi.
- Họ hàng có tiền sử bệnh di truyền.
- Vợ hoặc chồng có bệnh di truyền hoặc có nhiễm sắc thể bất thường.
- Có tiền sử sinh con dị dạng.
- Có tiền sử nhiều lần sảy thai hoặc thai chết lưu.
- Có tiền sử tiếp xúc với tia phóng xạ, chất đồng vị.
- Thời gian đầu mang thai bị nhiễm virut bệnh sởi, cúm.

4. Chẩn đoán trước khi sinh:

Áp dụng thăm dò làm xét nghiệm nước ối, siêu âm.

5. Kịp thời ngừng mang thai:

Trong quá trình mang thai, nếu xét nghiệm có bệnh nghiêm trọng phải kịp thời chấm dứt việc mang thai.

Bệnh di truyền có chữa được không?

Hiện nay, đã phát hiện có hơn 4000 loại bệnh di truyền với những biểu hiện khác nhau. Trước mắt còn rất nhiều bệnh di truyền không có cách gì chữa khỏi.

Mang thai
Qua nghiên cứu, có một số bệnh di truyền đã tìm ra cách chữa trị. Như áp dụng phẫu thuật đối với tật sứt môi, hở hàm ếch, đối với người bệnh có triệu chứng thiếu chất globulin bẩm sinh thì phải cung cấp lượng lớn globulin định kỳ; đối với bệnh thái hóa chức năng gan, do đây là một loại bệnh di truyền rối loạn chuyền hóa đồng nên áp dụng biện pháp ăn uống giảm đồng và dùng thuốc làm thải đồng để khống chế bệnh. Nếu triệu chứng khuyết tật bẩm sinh về chuyển hóa protein biểu hiện là màu sắc da trở nên nhợt nhạt thì có thể gây ra trí tuệ kém. Hiện nay đã có biện pháp có thể chẩn đoán sớm bệnh này, kịp thời chữa trị thông qua điều chỉnh ăn uống để khống chế bệnh phát triển.

Nói tóm lại, đối với phương pháp chữa bệnh di truyền, hiệu quả chữa trị còn chưa cao. Do vậy, chúng ta tránh việc phát sinh bệnh di truyền bằng cách phổ cập kiến thức về di truyền, tăng cường tư vấn di truyền, cấm họ hàng kết hôn gần nhau, cần kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn, tránh và giảm thiểu bệnh di truyền cho thai nhi.

Phương thức di truyền của bệnh di truyền

Phương thức di truyền của bệnh di truyền chủ yếu có 3 loại:


Sức khỏe mang thai
1. Phương thức di truyền của bệnh gien đơn: 

Loại bệnh này do gien dẫn bệnh nằm ở trên nhiễm sắc thể thường hoặc nhiễm sắc thể giới tính, bệnh di truyền biểu hiện có lúc liên quan đến giới tính có lúc không. Có thể chia ra 4 hình thức:

- Bệnh di truyền tính trội nhiễm sắc thể thường: Xuất hiện các bệnh như u tế bào võng mạc, bệnh co giật tính di truyền...

- Bệnh di truyền tính ẩn nhiễm sắc thể thường: Cơ hội mắc bệnh nhiều thường là do họ hàng gần kết hôn với nhau, xuất hiện các bệnh như khuyết tật bẩm sinh về chuyển hóa protein, chứng bạch tạng, chứng suy giảm tuyến yên gây lùn...

- Bệnh di truyền tính trội liên két giới tính: Xuất hiện chứng giảm tiết mồ hôi, bệnh còi xương do thiếu Vitamin D, khả năng phát bệnh trên cả con trai và con gái.

- Phương thức di truyền tính ẩn liên kết giới tính: Xuất hiện các bệnh như mù màu, bệnh máu không đông, chứng thiếu chất globulin bẩm sinh v.v...

Bởi vì gien gây bệnh trong các bệnh có bốn hình thức trên có khác nhau về tính trội và tính ẩn cho nên bệnh chỉ xuất hiện khi có người mang gien bệnh.

2. Phương thức di truyền của bệnh nhiễm sắc thể:

Đa số là do tế bào sinh sản của bố mẹ phát sinh di dạng trong phát dục. Sô ít là do trong bố mẹ có sự chuyển vị cân bằng nhiễm sắc thể truyền lại cho đời sau gây ra.

3. Phương thức di truyền nhiều gien:

Là bệnh chỉ hai đôi gien trở lên phát sinh bất thường gây ra, thường có liên quan tới nhân tố môi trường gây tổn hại đến nhiễm sắc thể.


Mách nhỏ dạy thai

Dạy thai trên thực tế là làm tốt công tác tinh thần của người mẹ, chính là thai phụ có thể giữ được tâm trạng thoải mái, tâm lý ổn định. Thai phụ nên nghe bác bản nhạc hay, đọc nhiều truyện tiểu thuyết nhẹ nhàng vui vẻ, ngắm nhìn những hình ảnh đẹp, tránh tinh thần ủ dột, lo âu, loại bỏ tất cả những gánh nặng về tinh thần.



Hoạt động tinh thần của thai phụ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi, trạng thái tâm lý và những biến động tình cảm của thai phụ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Nếu thai phụ bị kích động làm tinh thần buồn rầu, sợ sệt, tức giận, không yên... sẽ dẫn đến thay đổi chức năng của hệ thống tuần hoàn và tiêu hóa trong cơ thể, làm cho khó hấp thụ chất dinh dưỡng, sức khỏe của người mẹ bị tổn hại theo, có khi còn dẫn đến sảy thai tự nhiên hoặc đẻ non. Hệ thống thần kinh của người mẹ và con tuy không có quan hệ trực tiếp nhưng có sự giao lưu, tâm lý người mẹ thay đổi sẽ dẫn đến thay đổi một số vật chất hóa học như: lo lắng, sợ sệt sẽ dẫn đến hóc môn tuyến thượng thận tiết ra quá cao, mà lúc đó là thời kỳ hình thành một số cơ quan của phôi thai nên dễ gây phôi thai dị dạng hoặc khuyết tật.

Cho nên, thai phụ nhất định phải tìm đọc những sách về kiến thức chăm sóc phụ nữ mang thai, lúc nào cũng phải nghĩ đến trong bụng mình còn có một sinh mệnh bé nhỏ và là bản sao của chính mình, đảm bảo tinh thần lúc nào cũng vui vẻ, tinh thần ổn định, sinh hoạt có quy luật.

Trách nhiệm của người chồng đối với người vợ mang thai

Có một sinh mệnh mới do cả hai vợ chồng tạo ra, có thể sinh ra một đứa con khỏe mạnh, thông minh hay không là trách nhiệm của hai vợ chồng. Đứa con có được tố chất di truyền tốt hay không, người vợ sau khi mang thai có được chăm sóc tốt hay không điều đó không chỉ do người vợ quyết định mà vai trò của người chồng cũng rất quan trọng.

Trách nhiệm của người chồng đối với người vợ mang thai

Thai phụ hút thuốc lá, uống rượu có thể gây tổn hại đến thai nhi, người chồng hút thuốc lá, uống rượu cũng có thể ảnh hưởng đến đời sau. Chất có hại trong rượu và thuốc lá sẽ tổn hại đến tinh trùng, từ đó gây ra tinh trùng bị dị dạng, khiến thai nhi dị dạng bẩm sinh hoặc chết lưu. Trong thời gian chăm sóc người vợ mang thai, người chồng hút thuốc cũng gây hại lớn, nếu trong phòng mù mịt khói thuốc người vợ sẽ hít vào chất có hại đó mà ảnh hưởng đến thai nhi,

Ngoài ra, trong thời gian chăm sóc người vợ mang thai, người chồng nhất định phải quan tâm đến tình cảm của vợ nhiều hơn, tạo không khí vui vẻ trong gia đình. Đừng vì chuyện nhỏ nhặt mà cãi nhau, cố gắng tạo ra một môi trường sống phù hợp và thoải mái cho vợ. Cần chủ động làm việc nhà nhiều hơn, không nên để vợ làm việc nặng.

Lúc này, người chồng nên tự kiềm chế chuyện sinh hoạt vợ chồng, khi người vợ mang thai 3 tháng đầu và 2 tháng cuối, nếu sinh hoạt dễ dẫn đến sảy thai. Đồng thời nên đọc sách về kiến thức chăm sóc phụ nữ mang thai, tư vấn và tham mưu cho vợ, nhắc nhở vợ đi khám bác sĩ định kỳ, làm tốt vai trò "bác sĩ gia đình".

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

Thời kỳ đầu mang thai cần hết sức chú ý với tia X

Thời kỳ đầu mang thai (3 tháng đầu) là lúc phôi thai hình thành các cơ quan, mang thai đến tháng thứ 3,  phôi thai mới bước đầu thành hình người


Trong 2 tuần thụ tinh, trứng thụ tinh nếu chịu ảnh hưởng không tốt của bên trong và bên ngoài, sẽ gây dị dạng cho thai nhi hoặc sảy thai. Có thai sau 5 tuần là lúc tính nguy hiểm cao nhất, lúc này thai nhi vào thời kỳ phân hóa cơ quan, tính mẩn cảm lớn nhất, nhân tố có hại lúc nào cũng có thể làm trở ngại cho thai nhi phát sinh dị dạng về hình thái và chức năng.

Theo thống kê, thai phụ chụp tia X phần bụng thì tỷ lệ mắc bệnh máu trắng của thai nhi nhiều hơn gấp 2 lần so với người chưa chụp. Hơn nữa, thai phụ trong 3 tháng đầu chụp tia X, thì tỷ lệ thai phụ mắc bệnh máu trắng nhiều gấp 15 lần so với thai phụ chụp vào thời gian cuối.

Qua đó cho thấy, thời kỳ đầu mang thai là thời gian thai phụ đặc biệt chú ý.

Cho nên, biết sớm mình có thai hay không là rất cần thiết, tất nhiên để chú ý giữ gìn sức khỏe, tránh gây hậu quả xấu. Khi biết tình trạng đã có thai, phải đặc biệt chú ý đến chế độ ăn uống, nghĩ ngơi, trạng thái tinh thần, đề phòng bệnh tật...

Thai phụ có những đặc điểm sinh lý gì

Trong thời kỳ mang thai, thì thai phụ có những thay đổi khác thường về sinh lý dưới đây là những triệu chứng bạn cần quan tâm:



1. Tắt kinh.

2. Tử cung to ra, trở nên mềm. Thời kỳ đầu có thai, từ âm đạo có thể sờ thấy tử cung dần dần thành hình cầu, mềm; sau 3 tháng tử cung nằm ở khoang bụng, sang tháng thứ 10 dung tích tử cung to lên khoảng 100 lần so với trước khi mang thai.

3. Mô thành âm đạo mềm, tính đàn hồi lớn, có lúc xuất hiện tĩnh mạch phồng lên.

4. Ngực to lên, đầu vú thâm đen, xung quanh đầu vú tròn to lên, trên đầu vú xuất hiện một vài hạt nhỏ.

5. Nước tiểu dễ ứ đọng làm cho vi khuẩn dễ phát triển, dễ gây nên bệnh viêm thận, viêm bể thận.

6. Hít thờ nhanh hơn người bình thường một chút, đôi khi cảm thấy khó thở, khả năng miễn dịch của hệ thống hô hấp kém, dễ nhiễm bệnh về đường hô hấp.

7. Dịch vị tiết ra giảm, khả năng tiêu hóa kém, thai phụ thường có hiện tượng táo bón, trướng bụng.

8. Sắc tố da đậm lên, phần trước trán thường xuất hiện chấm màu nâu. Màu sắc đường giữa bụng đậm lên, hai bên bụng vì tử cung to lên nên xuất hiện đường rạn nứt.

9. Vào cuối thai kỳ tim đập nhanh hơn.

10. Nồng độ hemoglobin có phần giảm đi, thường vì thiếu sắt mà gây thiếu máu, phải chú ý ăn thức ăn giàu chất sắt.

Ăn uống trong thời gian phản ứng có thai

Thông thường, trong thời gian đầu thai phụ xuất hiện nhiều hoặc một số phản ứng có thai, nhu cầu ăn uống thay đổi rõ rệt, lúc này thai phụ vì buồn nôn, ghét đồ dầu mỡ nên thường không muốn ăn. Nhưng nếu thai phụ không cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng không tốt đến thai nhi, cho nên, ăn uống khi mang thai phải theo nguyên tắc đảm bảo cân bằng dinh dưỡng. Có thể muốn ăn gì thì ăn nhiều một chút.


Dưới đây xin giới thiệu một số đồ ăn hợp khẩu vị khi mang thai.

Loại gạo: cháo, cơm.

Loại bánh mì: Bánh mì nướng hoặc bánh mì kẹp xúc xích với sa lát rau, phomat, thịt nướng, thịt bò, bánh mì phết bơ, mứt hoa quả.

Loại mì: Mỳ trộn, mỳ kiều mạch...

Loại đậu: Tào phớ, canh đậu phụ, đậu phụ rán.

Loại cá, loại thịt: ăn lẩu, gà luộc, bít tết.

Loại sữa: Sữa chua, kem, sữa tươi.

Loại trứng: Trứng gà rán, trứng hấp, luộc.

Loại rau: Rau cải trộn dầu vừng, nôm rau, salat.

Loại quả: Hoa quả tươi, nước hoa quả, kem trộn hoa quả.