Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Lịch khám thai định kỳ đối với một thai kỳ bình thường

Theo quy định của Bộ Y Tế, trong một thai kỳ, người mẹ phải được khám thai ít nhất 3 lần vào 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Tuy nhiên nếu khám đầy đủ thì phải là 7 lần đối với một thai kỳ bình thường, còn những thai kỳ có nguy cơ cao như tim sản, cao huyết áp... thì số lần khám thai sẽ nhiều hơn với nhịp độ khít hơn phụ thuộc vào các lý do y học.

Lịch khám thai định kỳ đối với một thai kỳ bình thường

Lịch khám thai định kỳ đối với một thai kỳ bình thường:
  • 3 tháng đầu: khám thai 1 lần.
  • 3 tháng giữa: khám thai 1 lần
  • Tháng 7,8: mỗi tháng 1 lần.
  • Tháng 9: hai tuần khám 1 lần.
  • 1 tuần trước khi sinh: khám 1 lần



Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Thai giáo là gì?

Thai giáo là gì? Dạy con từ 0 tuổi

Thai giáo, nghĩa là nuôi dạy con từ khi còn là bào thai. Công việc này được tiến hành đồng thời cả hai mặt: Thể chất và tinh thần.


Thai giáo là quá trình giáo dục với các biện pháp tổng hợp được bắt đầu từ khi chuẩn bị mang thai, điều chỉnh hoàn cảnh môi trường trong và ngoài cơ thể người mẹ, tiến hành dạy dỗ và giáo dục thai nhi một cách chủ động, tích cực, giúp thai nhi phát triển toàn diện và đầy đủ cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và nhân cách.

Có nhiều kiểu thai giáo: thai giáo bằng âm nhạc, thai giáo bằng ngôn ngữ, thai giáo bằng xoa bóp, thai giáo bằng chế độ ăn uống, thai giáo bằng cách tạo môi trường tốt... Nhưng tổng hợp lại, chúng tôi thống nhất có 2 phương pháp thai giáo: thai giáo trực tiếp và thai giáo gián tiếp.

Thai giáo trực tiếp là tiến hành các biện pháp giáo dục sớm cho thai nhi. Dạy thai nhi thông qua các bài tập tác động đến 5 giác quan của cả mẹ và bé

Thai giáo gián tiếp là việc chăm sóc bà mẹ mang thai về mặt dinh dưỡng, tinh thần, tránh những kích thích không tốt cho mẹ và bé

Thai giáo là biểu hiện tình cảm giữa các thế hệ, là bản năng tự nhiên gắng liền với khao khát làm cha mẹ, là sự ttheer hiện tình cảm với con. Ai cũng từng được thai giáo nhưng khác nhau về mức độ, cách thức. Người thầy vĩ đại nhất của chúng tôi chính là MẸ:"Phúc đức tại mẫu". Xã hội tiến bộ hay suy thoái chính nhờ vào các bà mẹ. Chín tháng mười ngày nền tảng của đứa con do các bà mẹ cưu mang là nền tảng của xã hội tốt hay xấu sau này

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2015

Cách trị hôi nách triệt để

Tìm ra phương pháp trị hôi nách hiệu quả là vấn đề được rất nhiều người quan tâm. Tuy không phải là căn bệnh "đe dọa" đến tính mạng của bạn nhưng hôi nách lại đem đến rất nhiều phiền toái cho "chủ nhân" của nó. Làm ta rất mất tự tin trong giao tiếp, đem lại sự khó chịu cho người tiếp xác với bạn. Do đó nhiều người tìm đến những biện pháp dân gian với hy vọng chữa triệt để căn bệnh này.

Theo Đông y hôi nách là do tuyến mồ hôi vùng nách tiết ra chất nhờn gây mồ hôi khó chịu vì nách là nơi nóng ẩm nhất của cơ thể. Còn Tây y cho rằng hôi nách là do axit béo không bão hòa tiết ra nơi tuyến mồ hôi vùng nách bị vi khuẩn phân hủy tạo ra mùi hôi.

Mách bạn một số cách điều trị hiệu quả với các dược liệu từ thiên nhiên dễ tìm và rẻ đã được nhiều người áp dụng.Tuy nhiên để đảm bảo thành công bạn phải kiên trì,không bỏ giữa chừng nhé!

1.Gừng tươi:



Bạn giã nát từ 1-2 củ gừng tươi,vắt lấy nước,bỏ phần xác.Sau đó,bạn lấy phần nước này bôi vào vùng nách từ 2-3 lần/ngày.

2.Cà chua:


Ép một quả cà chua,trộn với nước ấm theo tỉ lệ 1-2 sau đó lấy hỗn hợp này bôi lên vùng da dưới nách.Lưu ý với bạn trước khi bôi phải vệ sinh sạch sẽ vùng nách nhe.

3.Rượu và hạt tiêu xay:



Bạn lấy 50gram hạt tiêu xay sẵn đổ vào ngâm với 300ml rượu trong vòng nửa tháng sau đó đem ra bôi vào vùng da dưới cánh tay đã được vệ sinh sạch sẽ. Cách này khá hiệu quả nếu bạn thực hiện đều đặn 2 lần/ngày.

Tất cả những cách trên rất ít tốn kém,lại "thân thiện" với cơ thể chúng ta,ít xảy ra trường hợp dị ứng nhưng nếu bạn không kiên trì thì mùi hôi "đáng ghét kia" sẽ lại tìm về với bạn sau một thời gian không thực hiện nữa. Có bạn lại tìm đến thuốc bôi hay lăn khử mùi. Nhưng theo khuyến cáo của bộ y tế,nhiều loại lăn khử mùi có chứa chất dẫn paraben gây ung thư, vô sinh vô cùng nguy hiểm nếu chúng ta sử dụng chúng. Theo kinh nghiệm của những người từng bị mồ hôi nách ám ảnh cách duy nhất loại bỏ nó là phẫu thuật. Hiện nay,trị hôi nách triệt để bằng nội soi đang là giải pháp tối ưu nhất. Với cách này toàn bộ tuyến mồ hôi dưới nách sẽ được loại bỏ hoàn toàn chính xác,chỉ một lần duy nhất mùi mồ hôi khó chịu sẽ không quay trở lại.

Phẫu thuật diễn ra nhanh chóng,không đau,không xâm lấn. Để biết rõ hơn về phương pháp này bạn có thể truy cập vào địa chỉ: http://thammyhanquocasia.vn/tham-my/phau-thuat-tham-my/tri-hoi-nach/tri-hoi-nach-hut-bo-tuyen-mo-hoi-nach-noi-soi trước khi đua ra quyết định giải quyết dứt điểm nỗi phiền toái của mình.

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

Mang thai và dị tật ống thần kinh

Thai nhi không có não và tật nứt đốt sống mở đều thuộc dị tật ống thần kinh. Nếu trực tiếp bộc lộ ra bên ngoài gọi là di tật ống thần kinh tính mở.

Loại bệnh này là bệnh di truyền nhiều gien, do kết quả nhiều đời gien có cùng tác dụng với nhau, nhân tố môi trường cũng là nguyên nhân gây ra bệnh này.

Thai nhi vô sọ và thai nhi di tật không có mô não, chủ yếu là do ống thần kinh của thai nhi phát triển kém gây ra, ngoài ảnh hưởng đến mô não, thần kinh sọ của thai nhi cũng có khuyết tật. Thai nhi như thể thường không có khả năng sống.

Tật nứt đốt sống mở thuộc dị tật ống thần kinh tính mở do môi trường độc hại gây ra chủ yếu là do nhiễm virut khi mang thai, hoặc tiếp xúc với tia phóng xạ, tiếp xúc dược liệu có hại hoặc có một số triệu chứng bất thường khi mang thai, ngoài ra, nếu trước và sau khi mang thai thiếu vitamin B12 thì tỷ lệ phát sinh bệnh này tăng cao.

Trong thời gian mang thai muốn chẩn đoán dị tật loại này nên áp dụng cách chọc nước ối để kiểm tra, đạt tỷ lệ chính xác đến khoảng 90 %. Siêu âm cũng chẩn đoán được thai không có mô não và tật nứt đốt sống mở.

Nếu thai phụ từng sinh con không có não hoặc tật nứt đốt sống hoặc vợ chồng có người bị tật nứt đốt sống nếu kiểm tra lâm sàng thấy nước ối quá nhiều hoặc đầu thai nhi không rõ thì phải chọc nước nối xét nghiệm và kiểm tra qua siêu âm.

Bệnh bẩm sinh và bệnh di truyền khác nhau như thế nào?

Một trong những đặc điểm của bênh di truyền là nó vốn có tính bẩm sinh, loại bệnh này sinh ra đã có. Nhưng không phải tất cả các bệnh sinh ra đã có đều là bệnh di truyền.


Bệnh bẩm sinh xuất hiện ngay khi vừa sinh ra, trong đó đa số biểu hiện là hình thái bên ngoài cơ thể và cơ quan nội tạng phát triển không bình thường.

Bệnh bẩm sinh không nhất định là bệnh di truyền, ví dụ: Người mẹ trong 3 tháng đầu mang thai bị nhiễm virut sởi dẫn đến thai nhi mắc bệnh tim bẩm sinh hoặc bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh, thì đó không phải là bệnh di truyền mà là do kết quả của ảnh hưởng nhân tố môi trường, loại bệnh này không truyền đến đời sau, cho nên không phải là bệnh di truyền.

Bệnh di truyền là do đời trước truyền cho đời sau, liên quan tới vai trò di truyền của gien di truyền từ đời trước. Có những bệnh di truyền không nhất thiết khi sinh ra đã có biểu hiện bệnh mà đến một tuổi nào đó mới phát bệnh. Như chứng căng cơ tính di truyền thường xuất hiện ở tuổi thanh xuân vào mùa đông. Lại như bệnh mất sự điều khiển vận động tiểu não có tính di truyền thường phải đến 35 - 40 tuổi mới phát bệnh.

Bệnh bẩm sinh và bệnh di truyền tuy không phải là một loại bệnh nhưng quan hệ giữa chúng lại rất mật thiết.

Đặc điểm của con cái so với bố mẹ

Một số đặc điểm của con cái như ngoại hình, giọng nói, dáng đi, ngũ quan, nhóm máu và những quá trình trao đổi chất trong cơ thể đều có điểm giống bố mẹ, sự giống nhau giữa thế hệ bố mẹ và thế hệ con gái là do gien di truyền.

Mang thai

Bất kỳ phôi thai nào hình thành đều do một tinh trùng và một trứng tạo nên. Hình thành tế bào sinh sản phải qua quá trình phân tách. Trong quá trình phân tách, liên tiếp thực hiện 2 lần phân tách tế bào, kết quả trên tinh trùng và trứng hình thành có 23 nhiễm sắc thể, qua sự kết hợp giữa trứng và tinh trùng, lại thành 46 nhiễm sắc thể. Trên mỗi nhiễm sắc thể có hơn 2000 gien, cơ thể con người có khoảng trên 50000 kết cấu gien biểu hiện các đặc tính khác nhau của cơ thể, 46 nhiễm sắc thể này lấy đi một nữa từ bố và một nửa từ mẹ, sẽ đem đặc điểm của bố mẹ truyền lại cho con cái. Gien khác nhau, có kết cấu nhiễm sắc thể khác nhau, cho nên con cái vừa không hoàn toàn giống bố, cũng vừa không hoàn toán giống mẹ. Hình thành một cơ thể mới vừa giống bố, vừa giống mẹ, lại vừa có đặc tính của bản thân.

Đó là lí do tại sao con gái và bố mẹ không hoàn toàn giống nhau, trong số con cái cùng bố mẹ sinh ra, giữa anh em, chị em và sinh đôi cũng không hoàn toàn giống nhau. Điều đó gọi là biến dị trong di truyền.

Cách phòng bệnh di truyền

1. Thực hiện biện pháp chăm sóc sinh đẻ:

Đối với người bị bệnh bẩm sinh có thể lây truyền cho thế hệ sau nên tránh việc sinh đẻ.

2. Tránh họ hàng kết hôn:

Con cái cùng họ hàng mà kết hôn với nhau sẽ phát sinh tỉ lệ một số bệnh di truyền nhiều hơn. Như người bệnh "thái hóa chức năng gan" tỷ lệ phát sinh bệnh thế hệ sau là 1/64, trong khi đó không phải họ hàng kết hôn là 1/40 triệu. Ngoài ra, trí tuệ kém của con cái họ hàng kết hôn cao gấp 3,8 lần so với không phải họ hàng kết hôn.


3. Tư vấn di truyền: Trước và sau khi mang thai có tình trạng dưới đây nên sớm được tư vấn:

- Tuổi cao, nữ trên 35 tuổi, nam trên 45 tuổi.
- Họ hàng có tiền sử bệnh di truyền.
- Vợ hoặc chồng có bệnh di truyền hoặc có nhiễm sắc thể bất thường.
- Có tiền sử sinh con dị dạng.
- Có tiền sử nhiều lần sảy thai hoặc thai chết lưu.
- Có tiền sử tiếp xúc với tia phóng xạ, chất đồng vị.
- Thời gian đầu mang thai bị nhiễm virut bệnh sởi, cúm.

4. Chẩn đoán trước khi sinh:

Áp dụng thăm dò làm xét nghiệm nước ối, siêu âm.

5. Kịp thời ngừng mang thai:

Trong quá trình mang thai, nếu xét nghiệm có bệnh nghiêm trọng phải kịp thời chấm dứt việc mang thai.